|
Câu hỏi của bạn làm tôi nhớ đến một giáo sư chủng viện nơi tôi theo học. Ngài luôn nhấn mạnh rằng chúng ta có thể áp dụng khoa phê bình hình thức (form criticism) vào Cựu Ước nhưng không áp dụng cho Tân Ước. Tôi nghĩ là ngài hiểu khoa phê bình hình thức như là để giảm thiểu lịch sử tính, trong khi đó dĩ nhiên là phương pháp này dùng để tìm ra đặc tính hay thể loại văn chương của một cuốn sách riêng biệt – cách tiếp cận Kinh Thánh như một “thư viện” mà tôi đã đề cập (xem câu 20). Như Cựu Ước, Tân Ước cũng là một thư viện, nghĩa là một thư viện của Giáo hội sơ khai. Khi bạn nói là chắc chắn chúng ta có thể tin tưởng vào lịch sử tính của Tân Ước, điều đó hàm ý là toàn bộ 27 cuốn sách đều là lịch sử, dĩ nhiên là không phải như vậy. Chúng ta hẳn khó có thể nói đến lịch sử tính trong trường hợp những thị kiến đầy tính chất biểu tượng của sách Khải huyền mà tôi đã nêu ra (xem các câu 29 - 30). Nhiều tác phẩm Tân Ước thuộc thể loại thư tín (epistles/letters). Một lần nữa, áp dụng tiêu chuẩn đo lường lịch sử tính đối với thể lọai này cũng gặp khó khăn. Cứ cho là người viết thư không tạo nên hoàn cảnh mà ông ta viết lá thư ấy; nhưng việc xác định giá trị của bức thư nên đặt trọng tâm vào phẩm chất của sứ điệp hơn là lịch sử tính của nó. Đối với những bức thư đồng thời với những sự kiện diễn tả trong thư, chúng ta phải xem xét vấn đề là trong khi có những lá thư gán cho Phaolô chắc chắn là do ngài viết, thì cũng có những lá thư khác có thể do các môn đệ của ngài viết nhân danh thày của mình, ngay cả sau khi ngài đã chết. Đối với những lá thư Tân Ước gán cho Phêrô, Giacôbê, và Giuđa, vấn đề cũng tương tự như vậy. Có lẽ đối với Tân Ước chúng ta không có những vấn đề lịch sử tính gai góc như trong các truyện ký Cựu Ước, nhưng trong Tân Ước cũng có những vấn đề riêng của nó.
Để trả lời tôi xin phân biệt điều mà Tân Ước nói và điều mà Tân Ước không nói. Tôi đã từng nghe nhiều người bắt đầu các bài đọc trong nhà thờ bằng cách xác định thư đó là của Phaolô: “Bài trích thư thánh Phaolô gởi tín hữu Do Thái”. Nếu chúng ta nhìn vào Tân Ước, chúng ta không thấy một dấu hiệu rõ ràng nào nói rằng Thư gởi cho tín hữu Do Thái đã do thánh Phaolô viết; và thật sự trong bản văn không có chữ “gởi cho tín hữu Do Thái”. Việc xác định bức thư này như là được viết cho “tín hữu Do Thái” được xuất hiện vào thế kỷ thứ II (chứ không có trong chính bản văn Kinh Thánh), và việc xác định tác giả là Phaolô lại đến sau hơn nữa, và trong một thời gian, chỉ giới hạn trong một phần Giáo hội thôi. Giáo hội Rôma đã tỏ ra do dự nhất khi nhận thư này như là của Phaolô. Tương tự như thế khi nói đến ba lá thư của Gioan. Và cũng không có chỗ nào nhắc đến Gioan trong bản văn của các thư trên. Một lần nữa, đó chỉ là một sự phỏng đoán nẩy sinh từ thế kỷ thứ II chứ không phải từ Tân Ước. Tuy nhiên, bạn cũng có lý đối với các thư khác xác định rõ tên tác giả . Mười ba tác phẩm của Tân Ước là những lá thư có tên Phaolô. Trong 13 thư đó các học giả đã gán cho Phaolô công việc tự tay soạn thảo 7 thư: 1 Thessalonica, Galata, 1 & 2 Côrintô, Philipphê, Philêmon, và Rôma. Có lẽ 90% các chuyên gia phê bình nghĩ rằng Phaolô đã không tự soạn thảo những lá Thư Mục Vụ (1 & 2 Timôthêô, Titô). Có lẽ 80% đồng ý rằng Phaolô đã không viết Thư Êphêsô; có lẽ 60% cho rằng Phaolô đã không viết Thư Côlôsê; và chỉ hơn một nửa nói rằng ngài đã không viết Thư 2 Thessalônica. Tôi đưa ra phỏng đoán về con số phần trăm của các nhà học giả để nhấn mạnh rằng đó không phải là một môn khoa học tuyệt đối. Tuy nhiên, chúng ta đang đối diện với những ý kiến không phải là của một thiểu số. Cũng vậy, trong những bức Thư Công giáo, có lẽ 95% đồng ý rằng Phêrô đã không soạn thảo Thư 2 Phêrô; có lẽ 75% cho rằng Giuđa đã không soạn thảo Thư Giuđa, hoặc rằng Giacôbê đã không soạn thảo Thư Giacôbê. Và có lẽ các nhà học giả cũng đã bắt thăm để xem Phêrô có thực sự viết gì trong Thư 1 Phêrô không? Phải chăng linh hứng không bảo đảm được rằng một lá thư khi mang tên Phêrô hay Phaolô là do người ấy viết? Tuyệt đối ‘không’, cũng như việc nghĩ rằng Môisen đã viết Ngũ kinh đã không thể bảo đảm rằng chính ông đã viết các sách ấy. Đã có một qui ước là gán ghép cách phù hợp những tác phẩm cho nhân vật có nhiều uy tín. Môisen được ghi nhớ là đã nhận lãnh lề luật, và do đó những tài liệu về luật đã được gán cho ông như là tác giả. Salômôn được coi như một nhân vật khôn ngoan, vì thế những tài liệu về khôn ngoan được gán cho ông. David được trình bày như một người hát thánh vịnh nên chúng ta có thể nói “thánh vịnh của David”, cho dù trong sách này có một vài thánh vịnh đã không được gán riêng cho ông. Cũng vậy, sau khi Phaolô qua đời và các môn đệ của ngài, tiếp nối truyền thống của thày mình, đã muốn giáo dục dân chúng về những gì mà có lẽ Phaolô sẽ nói khi phải đối diện với những tình huống mới, họ tự cho phép mình viết ra dưới tên của Phaolô. Như tôi đã nhấn mạnh, viết là hoạt động của con người; và linh hứng của Thiên Chúa tôn trọng qui ước của hoạt động con người. Để trưng ra một thí dụ cho thấy cách các học giả Công giáo đã khai triển thêm trong vấn đề này, chúng ta hãy mở cuốn The Jerusalem Bible mà tôi đã đề cập đến trong khi trả lời câu hỏi thứ 2. Trong bản dịch nguyên thủy bằng tiếng Anh của The Jerusalem Bible, chúng ta thấy viết: “Một vài nhà phê bình đã kết luận rằng các Thư [Mục vụ] đã không do Phaolô viết nhưng do một người giả mạo cho các chi tiết này vào hầu làm cho lá thư có vẻ thật và càng giống Phaolô càng tốt”. Khi bình giải về cuốn này, tôi đã mạnh mẽ phản đối tính cách định kiến của câu nhận xét trên là đã không biết gì về qui ước sáng tác dưới danh nghĩa một người khác (pseudonimity = tên giả, bút danh, mạo danh). Trong cuốn New Jerusalem Bible, tôi đã hài lòng khi thấy: “Cách giải nghĩa tốt nhất có lẽ là các Thư Mục vụ đã do một môn đệ của Phaolô viết. Người này, ý thức được uy tín của thày mình, đã tìm cách cố vấn và chỉ đạo về cách điều hành các Hội thánh tại những địa phương đó. Tục dùng tên của một người được kính trọng trong những trường hợp như thế là một điều được phép về mặt văn chương thời ấy”. Theo ý tôi điều này nói lên sự tiến triển của khoa phê bình Công giáo từ những năm 1950 đến thập niên 1980. Câu 36. Câu trả lời của cha hàm ý rằng không có gì khác biệt giữa việc chính Phaolô hay là một môn đệ viết lá thư. Vậy thì xin mạn phép hỏi thêm: Tại sao các nhà chuyên môn lại tốn giờ để xem Phaolô có viết lá thư đó hay không? Câu trả lời của tôi không có chủ đích hiểu ngầm rằng không có gì khác biệt nếu Phaolô viết hay không viết. Tôi chỉ xin trả lời câu hỏi muốn biết liệu một lý thuyết đúng đắn về linh hứng có cho phép chúng ta nói là Phaolô đã không viết một lá thư bắt đầu bằng câu: “Từ Phaolô, do ý Thiên Chúa đã trở thành một Tông đồ của Đức Kitô Giêsu...” không? và câu trả lời của tôi là “thưa được, ạ”. Trái hẳn với điều bạn cho là ngụ ý ở trên, tôi nghĩ rằng có một khác biệt lớn giữa việc Phaolô viết hay không viết một lá thư. Việc quyết định quyền tác giả (authorship) có ảnh hưởng rất lớn trên hình ảnh mà chúng ta có về sự phát triển của Giáo hội sơ khai. Nếu các Thư Mục vụ đã được Phaolô viết lúc ngài còn sống, điều đó có nghĩa là ngay từ đầu những năm 60, người ta đã việc chú tâm nhiều đến cơ cấu Giáo hội, đến việc quyết định ai làm trưởng lão - giám mục, và việc kiểm soát giáo huấn. Nếu ý kiến của đại đa số các nhà chuyên môn là đúng, và Phaolô đã không viết các Thư Mục vụ, thì vấn đề hiển nhiên là, vì thế hệ tông đồ, mà Phaolô đại diện, lúc này đã chấm dứt nên có vấn nạn ai sẽ có trách nhiệm dẫn dắt và giáo huấn các Giáo hội Kitô.
Nếu các Thư Côlôsê và Êphêsô do Phaolô viết khi còn sống thì thần học của ngài đã thay đổi đáng kể, theo nghĩa là Giáo hội học chiếm hàng đầu đến độ hầu như thay thế cho Kitô học. Hai thư này quan tâm đến Giáo hội như là Thân thể của Đức Kitô mà Ngài đã hiến mạng sống. Nếu trong những lá thư đích thực của Phaolô, ngài đã nhấn mạnh cho các Kitô hữu rằng tất cả là các chi thể của Thân thể Đức Kitô, thì cái nhìn tập thể về Giáo hội, như là cùng đích của sứ vụ Đức Kitô, lại không được nhấn mạnh như trong Thư Côlôsê và Êphêsô. Chúng ta thử hỏi trong đường hướng nào của sự phát triển Giáo hội sơ khai mà Giáo hội học bắt đầu được đem lên hàng đầu. Tôi có thể đưa ra những thí dụ khác về tầm quan trọng của vấn đề quyền tác giả.
Chắc chắn tôi trả lời “không”, dù tôi biết rằng có nhiều học giả, kể cả học giả Công giáo, đã mặc nhiên viết theo chiều hướng trên. Tôi đã đề cập những vấn đề về cơ cấu Giáo hội, đặc biệt sự cần thiết phải có các trưởng lão - giám mục, là đề tài của các Thư Mục vụ. Ngày nay, nếu có ai muốn lập một Giáo hội không quyền bính, hoặc ít quyền bính hơn, hoặc với mưu đồ du nhập những thay đổi toàn diện về bản chất của quyền bính, họ sẽ lập luận rằng những thư trên không do Phaolô viết nên không quan trọng. Bạn đặt câu hỏi là cho dù các thư không do Phaolô viết cũng được linh hứng, điều đó có nghĩa là chúng có cùng uy tín như những bức thư đích thực [do Phaolô viết]. Câu trả lời ‘có’ của tôi không chỉ dựa trên căn bản linh hứng nhưng còn trên bản chất của thư quy. Khi chấp nhận những thư này vào thư quy, cộng đoàn Kitô giáo đã tự buộc mình vào khuôn khổ một lối sống theo mẫu mực các thư đó và uy tín của chúng. Tôi hy vọng đã nói rõ rằng lập trường của mình là tôi không hiểu mạc khải hay uy tín của Kinh Thánh theo khuynh hướng bảo thủ cực đoan. Nhưng tôi nhận thấy có tinh thần bảo thủ cực đoan nơi vài người, đơn thuần dựa trên những dữ liệu đáng nghi ngờ về quyền tác giả, lại phủ nhận các sách được đưa vào thư quy hay sự quan trọng của công việc này. Việc Giáo hội đã gắn bó với Kinh Thánh như là nguồn chỉ đạo căn bản trong đời sống của mình là một yếu tố quan trọng hơn việc xem xét tác giả nào trong thời Giáo hội sơ khai đã viết một tác phẩm nào. Nếu có ai nhấn mạnh đến các Tông đồ như là tác giả (điều này hàm ý rằng toàn bộ đã được soạn thảo trước năm 65), thì hầu như bộ Tân Ước sẽ mất hết uy tín. Tác giả các Thư Mục vụ đã ở trong một hoàn cảnh mà Phaolô đã không phải đối đầu lúc còn sống. Giải đáp cho tình huống mà tác giả đưa ra, nhân danh Phaolô, xứng đáng để chúng ta trân trọng hơn là những tái tạo tưởng tượng hiện đại xem thử Phaolô đã nghĩ ra sao khi còn sống - những tái tạo này không dựa trên những dữ kiện chắc chắn mà thường là phản ảnh điều mà một nhà chuyên môn mong rằng Phaolô đã có thể suy nghĩ. */* |
Q. 34. So far you have been responding to questions on the Bible in
general with many references to the Old Testament. Isn't the New Testament
different? It was not written hundreds of years after the events it
describes, but almost contemporaneously. Surely we can trust its
historicity. Your question reminds me of a professor who once taught in a seminary where I was. He always insisted that you could apply form criticism to the Old Testament but not to the New. I think he understood form criticism to mean a diminution of historicity, whereas of course it means diagnosing the literary character or genre of a particular book-the "library" approach that I spoke of previously (see Q. 20). Like the Old Testament, the New Testament is also a library, namely, the library of the Early Church. When you say that surely we can trust its historicity, that might imply that all twenty-seven books are histories and, of course, they are not. One can scarcely speak of history in regard to the symbolic visions of the Book of Revelation that I pointed out (see Q. 29-30).
|