ĐỒI LA SAN CÙ LAO

Lẽ ra khối nhà huấn luyện không được đặt tại Nha Trang, vì những người phụ trách đã đi tìm ở gần Huế một đỉnh nhỏ nằm gọn giữa các cây thông được bao bọc bởi những ngọn đồi xanh um, và nếu được, phải cao hơn mực nước Sông Hương khoảng một chục mét. Đã lâu, họ nghĩ đã tìm được địa điểm mơ ước đó ở phía gần tháp nước giữa đám thông reo và thơm ngát.


Khoảng tháng 2 năm 1930, SH. DOMICÉ-ROGATIEN đi Nha Trang để tìm đất nhưng không kết quả. Ông trở về chỉ với niềm tin chắc rằng phải đặt nhà huấn luyện tại đó.


Cũng vào thời ấy, SH. HÉRIGER-MARIUS tìm được 3 mẫu ruộng gần nhà thờ Pháp ở Huế (nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê), với ý định chuyển Trường Pellerin đến đó, còn bán đảo nơi trường đang tọa lạc sẽ được dành trọn cho nhà huấn luyện. Nhưng dự án bị gạt bỏ vì thiếu tài chính.
 

Tháng 9 năm đó, SaH. Giám Tỉnh DIVY-JOSEPH phái tôi đi Nha Trang với nhiệm vụ tìm cho ra một miếng đất. Tôi bỏ ra 2 ngày để thăm dò địa thế giữa Nha Trang và Bình Cang. Vẫn không thấy có địa điểm nào thích hợp. Trước khi trở về Huế, tôi muốn ra sức thử một lần chót. Tôi leo lên thềm cao của Tháp Chàm Ponagar. Từ đó, về phía đông, tôi thấy một cảnh tượng đẹp, phía trước Tháp bị che khuất bởi một đỉnh đồi. Tôi liền quyết định trèo lên tới đó, tới 2 tảng đá chồng mà ngày nay vẫn còn nằm dưới chân tượng Thánh Lập Dòng.

Nhưng lúc đó tôi phải mở một lối đi, từ quốc lộ thẳng tới đỉnh, băng qua khu đất hiện nay của các Cha Phanxicô. Lên tới tảng đá, tôi không còn chút nghi ngờ nào về công dụng của nơi hiểm trở này, hoàn toàn khó phân biệt từ quốc lộ.


Trở lại Huế ngày hôm sau, tôi báo cáo điều đã khám phá cho SH. Giám Tỉnh. Ba ngày sau, ngài muốn cùng SH. VAUTHIER-JOSEPH đến thị sát tận nơi. Và cả 3 chúng tôi đều nhất trí.


Ngay tức khắc, chúng tôi nhờ Cha VALLET, chánh xứ Nha Trang, làm đơn xin khai khẩn trình lên ngài Khâm Sứ GRAFFEUIL, dưới sự bảo trợ của Ông GEAI, Tỉnh Trưởng Khánh Hòa. Vào thời ấy, mỗi kiều dân có thể xin nhượng 10 mẫu đất. Tôi liền xin mua thêm 2 mẫu (nơi có nghĩa trang) cùng với con đường rộng 12m dẫn vào từ quốc lộ. Vài tháng sau, các thủ tục đều được duyệt.


Nhưng khi tin về dự định chuyển các nhà huấn luyện về Nha Trang được loan đi, trở ngại liền ập đến từ khắp nơi. Người ta chê vị trí cách xa trung tâm thành phố, lối vào khó khăn, sự độc hại cho sức khỏe, phí tổn xây cất rất cao, việc phụng tự tôn giáo không thuận tiện...


Ai kể cho thấu nỗi đau của SH. Giám Tỉnh, những đêm ngài thức trắng và những điều phiền nhiểu ngài phải gánh chịu để bào chữa cho việc chọn địa điểm, việc di dời nhà huấn luyện, và để đảm bảo rằng Tỉnh Dòng đơn phương gánh chịu mọi phí tổn.


Sự tán đồng của các Đấng Bề Trên là phần thưởng quí báu dành cho sự gan dạ của SH. DIVY-JOSEPH. Ngài đã biết thuyết phục họ về tình thế tuyệt hảo trên cả 4 phương diện địa lý, khí hậu, tôn giáo và vệ sinh y tế, bằng cách trưng ra thơ khích lệ của Đức Giám Mục Địa Phận Qui Nhơn, các giấy phép y tế, các chứng từ của những người có thẩm quyền, trong đó có những nhà chức trách đương nhiệm.


Tháng 6 năm 1931 tôi được người ta giới thiệu với Ông Tỉnh Trưởng GEAI, và ông cam kết sẽ tận tình giúp đỡ tôi trong mọi khó khăn.
Nhưng khi những nhát dao rựa khai hoang khởi động, phía Huyện buộc tôi phải làm đơn hợp lệ để ông ta chuyển đạt lên quan Tuần Vũ. Tôi trả lời rằng đã được phép của cấp cao hơn thượng cấp của ông, nghĩa là của Quan Khâm Sứ. Ông ta không kỳ kèo nữa.


Việc phát hoang làm xong, Ông GEAI và Cha VALLET đến “khánh thành” ngọn đồi bằng cách đập vỡ một chai rượu Champagne.
Đồ án xây dựng được dự trù có hình chữ “H” nằm ngang. Nhưng khi thềm cao được san bằng, địa hình buộc phải cất theo hình chữ “công”, như một chiếc máy bay, mà một cánh còn dang dở.


Đồ án đã được phê duyệt rồi, cần phải tìm cho ra các kiến trúc sư và nhà thầu. Vào tháng 10, tôi về Saigon và SH. TÉCLAN-MARCEL thay thế tôi. Ông đến nơi với Ông MORIN, kỹ sư của hãng S.I.D.E.C, và Ông COCCIANTE, công trình sư.


Người ta bắt đầu xây nhà tuyên úy, rồi đến Sơ Tập Viện (Petit Noviciat), hồ lớn ngầm và tháp nước.


Nhưng SH. TÉCLAN-MARCEL được bổ nhiệm làm hiệu trưởng ở Phát Diệm, nên tôi được thuyên chuyển về lại đồi. Tôi gặp lại những trở ngại đã quen thuộc: dân làng vừa đâm đơn kiện chúng ta vì đã xây dựng hồ chứa nước trên đỉnh đồi nói là của họ. Một hôm tôi thấy vị phụ tá khâm sứ và quan huyện đến công trường. Cả hai chìa ra một bản đồ và tuyên bố rằng chúng ta đã lấn sang đất của làng, rằng thỏa ước cá nhân giữa SH. MARCEL với ông thị trưởng không đủ hiệu lực về quyền sử dụng. Họ ra lệnh cho tôi phải đập phá hồ nước. Tôi xin họ cho tôi 15 ngày để giải quyết vấn đề. Chưa hết 3 ngày, tôi mời các thân hào nhân sĩ của làng đến dự bữa tiệc thân hữu và mọi người tha hồ thưởng thức rượu đế, uống mừng sự thịnh vượng của làng và sức khỏe của các SH. Trong lúc ai nấy đang khoan khoái phút trà dư tửu hậu, tôi đề nghị mua miếng đất gây tranh cãi. Mọi người đều chấp thuận và đôi bên vui sướng ra về.


Ngày hôm sau, chúng tôi đến xin yết kiến vị khâm sứ và trình văn tự chuyển nhượng. Đọc xong, ông nói với các thân hào rằng giấy tờ đều hợp lệ, và như thế họ không được tiếp tục gây trở ngại cho các SH.


Nhưng kỳ thực, chúng ta không bị ràng buộc với làng, vì đây là đất công cộng, cũng như cả khu đồi còn lại, và làng chẳng có quyền gì hết. Chúng tôi chỉ hay biết điều này khi mua luôn đỉnh cao nơi đặt tượng Thánh Gioan La San: để xóa tan thái độ đầy ác ý của làng, SH. THOMAS đòi xem cho được sổ bộ của Cù Lao, trong đó không thấy nói tới đỉnh núi nào cả.


Lúc đầu, giữa làng với chúng ta, rõ ràng quan hệ không mấy nhã nhặn. Tuy nhiên ngày nay, sự hòa thuận lại rất thân tình, nhờ có Trường Tiểu Học La San đã mang lại những lợi ích mà không ai phủ nhận.


Trong khi đó, công trình cứ theo đúng tiến độ, và người ta bắt qua đợt 2, gồm có Nhà Hưu Dưỡng, nhà bếp, Tập Viện và Nhà Nguyện. Công việc xây cất đang ở vào lô cuối cùng, thì ngày 21 tháng 3 năm 1933, lúc 16 giờ, người ta thấy các em chuẩn sinh cùng với Cha Tuyên Úy dọn đến. Chưa có gì sẵn sàng. Nhà Hưu Dưỡng và Tập Viện thì chưa có cửa cũng như cửa sổ, còn Nhà Nguyện thì mới mọc lên chưa được tới 3 mét. Vậy nên mọi người cùng san sẻ ngôi nhà Sơ Tập Viện. Nhà Nguyện tạm thời được đặt tại phòng của dãy Học Viện hiện nay.


Cuối cùng, ngày 15-5-1933, Nhà Nguyện được khánh thành và nhà được làm phép cung hiến. SH. Giám Tỉnh DOMINIQUE-MARIE, vừa nhậm chức thay thế SH. DIVY-JOSEPH, không muốn nhiều nghi thức. Nước thánh, vài kinh phụng vụ do Cha Tuyên Úy CHÁNH, - nay đã nghỉ hưu ở Làng Sông, - cử hành, và thế là Thiên Chúa ngự trị trong ngôi nhà của các con cái của Ngài.


FR. SIMON HÒA
Người dịch: S.H. Lê Thành Tố

 

Chuyện thứ Hai

1933

Hai người lữ khách từ Huế tiến về miền Trung, đi tìm một nơi thanh vắng có đủ điều kiện thuận lợi để mở một trung tâm huấn luyện các tu sĩ dòng La San tại Việt Nam. Đến đèo Rù Rỳ, họ thấy một ngọn đồi , từ quốc lộ chạy thẳng ra biển, chắn cái nhìn của họ, nhưng lại có một sức quyền rủ nào đó… Họ hướng về ngọn đồi. Khi lên đến đỉnh , một khung cảnh tuyệt đẹp hiện ra trước mắt họ: trước mặt, phía nam, thành phố Nha Trang lặng lẽ tắm nắng dưới một bầu trời xanh biếc, phía Đông, lớp lớp sóng tung tăng như đàn cừu trên cánh đồng bát ngát của Biển Đông, phía Tây, con sông Cái trải dài tấm thảm dẫn đến Tháp Bà Ponagar…
Hai người lữ khách kia, Sư Huynh Simon Hòa và bạn đường, quyết định đề nghị cấp trên chọn ngọn đồi nầy, và từ đó, nó đã trở thành ĐỒI LA SAN.
CỌP KHÁNH HÒA…
1933: Đồi La San còn hoang vu : mang, cheo thường xuyên về hội ngộ, thỏ rừng không vắng những cuộc hẹn hò vào những đêm trăng tỏ. "Ông Cọp" vẫn còn bén mảng . Lần chót "ông" xuất hiện trong vùng, là một buổi trưa 1942…
Những bàn tay của nhiều thế hệ trai trẻ được huấn luyện tại Đệ tử viện, Tập Viện, Học Viện, đã chinh phục từng khối granit, bắt chúng nhường chỗ cho xoài, likima, vú sữa, mít, nho… Năm này sang tháng nọ, với những cây xà beng một mét rưỡi sau chỉ còn lại năm, bảy tấc, họ đã biến ngọn đồi hoang vu nầy thành một khu vườn nên thơ với "đại lộ Divy", (S.H. Giám tỉnh người đã chọn ngọn đồi nầy), vườn mít, vườn xoài, vườn nho. Nho đồi La San một thời có tiếng. Trước khi Nha Trang trở thành một thành phố du lịch, đồi La San đã thu hút những khách có dịp ghé Nha Trang vì Đồi La San được xem như là một góc Thiên đàng!
Đồi La San, một góc Thiên đàng!
…Vào lúc Vầng Hồng từ lòng đại dương xuất hiện, từ từ đánh thức bình minh…
…Vào lúc hoàng hôn, khi vùng trời phía tây sáng rực muôn mầu sắc sau rặng núi xa xăm…
Cảnh thiên đàng còn đó, nhưng …
…Vào lúc xế chiều khi hằng trăm cánh buồm trắng, tựa đàn ngỗng rừng, xếp hàng lũ lượt xuôi gió về bến Cù-lao…
… Vào lúc tiếng chuông trong trẻo, sáng, trưa, chiều mời gọi khách qua đường nâng hồn lên Thượng Đế…
Cảnh thiên đàng đó, nay chẳng còn!
Hai người lữ khách kia, Sư Huynh Simon Hòa và bạn đường, quyết định đề nghị cấp trên chọn ngọn đồi nầy, và từ đó, nó đã trở thành ĐỒI LA SAN.


1978

Tu viện La San dời xuống dưới chân đồi, nơi có trại chăn nuôi và nhà máy gạo…
Cho đến những năm 1940, con đường Tháp Bà là con đường duy nhứt từ Tháp Bà ra đến biển. Từ nhà hơi đến đất Nhà Dòng là khu vực của bồn bồn, kỳ nhông, và những ngôi mộ thô sơ.
Trong vòng nửa thế kỷ, trên đồi anh em trẻ La San ra công khai phá, trồng trọt, sửa sang, dưới chân đồi, gia đình Ông Trần văn Bảo (Ông Chính = Chín) đã xây cừ, đắp đường, đào giếng, trồng dừa, chăn nuôi… để biến khu đất hoang nầy thành một nơi làm cho một số người thèm thuồng…


Bài giảng của Đức Cha địa phận Nhatrang nhân ngày kỷ niệm 70 năm các Frères La San hiện diện tại Nha Trang


Anh chị em thân mến,
Cùng với các Sư Huynh Dòng Lasan và đặc biệt là các Sư Huynh tại giáo phận Nha Trang,chúng ta vui mừng tạ ơn Chúa và cầu nguyện thật nhiều cho các Sư Huynh trong dịp kỷ niện 70 năm hiện diện tại Nha Trang,50 năm thành lập cộng đòan Lasan Bá Ninh và 30 năm thành lập Trung tâm giáo dục Chư prong.


Bản thân tôi cũng là học trò của các sư huynh và thật là hạnh phúc khi tôi về nhận Giáo phận tôi may mắn được gặp lại các thầy cũ đã từng dạy tôi ở Hà Nội ngày xưa.Và cho đến tận hôm nay chúng ta cũng còn gặp lại nhiều anh em khác cũng đã từng là học trò của các sư huynh hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong xã hội và Giáo hội.Điều đó nói lên rằng vấn đề giáo dục,vấn đề đào tạo con người mãi mãi là những vấn đề vô cùng quan trọng.


Trở lại với bài đọc một trong thánh lễ hôm nay,chúng ta Thấy Thiên Chúa dùng mỗi người vào những công việâc khác nhau:người làm ngôn sứ,người làm tông đồ….và có những người được gọi để làm những công viêc chuyên biệt như các Sư Huynh Lasan đây,là những người được gọi để làm công tác coi sóc và giáo dục trẻ.


Trong một chuyến xe lửa,tôi có gặp một người theo Hồi giáo,họ nói:"Trong quốc gia của tôi,mọi sinh họat của chúng tôi đều độc lập với người công giáo chỉ trừ có một điều, chúng tôi phải theo người công giáo đó là việc học hành của con em chúng tôi,chúng tôi hòan tòan an tâm khi gởi con em mình theo học trong các trường công giáo.


Tôi qua Thái lan,một đất nước vời đạo Phật là quốc giáo,chỉ có 200 ngàn người công giáo nghĩa là bằng ¼ số giáo dân của giáo phận Xuân Lộc,vậy mà rất nhiều người ,họ chỉ thích gởi con trong các trường công giáo.


Hai câu chuyện trên cho thấy vai trò quan trọng của các trường công giáo và sứ mạng đăc biệt của các sư huynh.


Sang bài Phúc âm,Chúa Giêsu dạy các tông đồ":Hãy nên như con trẻ".Vì ngày đó chưa có Thánh Gioan Lasan, chưa có các sư huynh cho nên Chúa Giêsu phải trực tiếp giáo dục các tông đồ,bởi các ông rất coi trọng vấn đề chức quyền,địa vị cao thấp….Chúa đã hết sức nhẫn nại để uốn nắn các ông.Trong một lần tham dự hội nghị,tôi đặt câu hỏi:" Khi nào thì một đứa trẻ được coi là một người? Tôi nhận được 3 câu trả lời:
Khi đứa trẻ chưa sinh ra
Khi đứa trẻ lên vài tuổi
Khi đứa trẻ 12 tuổi.


Câu trả lời thứ 3 là câu trả lời của một người Do Thái. Đối với họ trẻ em dưới 12 tuổi chẳng là gì cả,nó chưa được kể là một con người. Thế cho nên khi nói với các tông đồ : "Hãy nên như con trẻ…" Chúa Giêsu đã làm một cuộc cách mạng rất lớn trong thời của Ngài.Ngài không có ý bảo các tông đồ phải nhỏ lại hay phải sống giả vờ như con nít…song Ngài muốn các ông có được tâm tình đơn sơ,khiêm tốn như con trẻ.Thánh Gioan Lasan ngày xưa vào thời của Ngài, cũng đã thưc hiện một cuôc cách mạng rất lớn trong viêc dạy học bằng viêc dùng tiếng mẹ đẻ thay vì dùng tiếng Latinh,tổ chúc lớp học theo từng trình độ,mở các lớp học bình dân,mở trường sư phạm đào tạo các thầy cô giáo…

Khi có dịp qua Hoa kỳ, Pháp, Philippin, tôi tận mắt chứng kiến những trường học và việâc điều khiển cac trường học đó của các sư huynh,thật là những đóng góp hết sức lớn lao cho xã hội và Giáo hội…..Trong niềm vui hôm nay, xin chia vui với Tỉnh Dòng Lasan,với các Sư huynh vùng Nha Trang chúng ta cùng nhau cảm tạ Chúa và cầu nguyện thật nhiều cho các Sư Huynh trong sứ mạng giáo dục của mình.


VÀI DÒNG CẢM NGHĨ NGÀY HỌP MẶT 30/11/03


Không phân biệt tuổi tác,giai cấp sang giàu,những người đã là ông nội, ngọai,có sui gia đã rất hồn nhiên hòa đồng trong cuộc sinh họat đầy tình thân ái.Con cảm thấy như rất gần gũi và mọi người rất sẵn sàng cởi mở tấm lòng,cùng nhau hỏi han chuyện trò nhắc lại những kỷ niện xưa khi cùng chung một mái trường và cùng có những người thầy rất đặc biệt hy sinh suốt cuộc đời cho nền giáo dục tuổi trẻ theo tinh thần thánh Gioan Lasan .Đã có những người sau 30,40 năm rời nhà trường không gặp được thầy cũ cùng với bộ áo dòng trên người nay gặp lại thì rất là cảm động và biết ơn.
Con thường xuyên có mặt trong trong cuộc họp mặt Lasan hằng năm.Theo con,cuộc họp mặt lần này thật sống động và gần gũi.Em phụ trách âm thanh cho ngày hôm đó(không phải là học sinh Lasan)đã nói với con:" chú ơi,buổi hop mặt này nó sao sao ấy…" qua trao đổi con hiểu được rằng em rất ngạc nhiên,vì em đã tham gia nhiều cuộc họp mặt nhưng chưa hề thấy cuộc họp mặt nào như thế này-không ồn ào,la hét,ăn uống….song là một cuộc họp mặt thánh thiện,hòa đồng tuổi tác và nhất là nghe được biết bao việc làm từ thiện của những anh em cựu Lasan.


Một anh bạn trong nhóm đã tâm sự là mỗi lần có dịp gặp anh em trong nhóm,mình cảm thấy thoải mái tinh thần,nói chuyện thật lòng,không dè dặt,luôn tin tưởng lẫn nhau.


Theo con, anh em có được tinh thần trên là nhờ nền giáo dục Lasan và con mong muốn rằng các fr là những người đầu tiên liên kết anh em cựu Lasan lại với nhau.


Một cựu Lasan.


~~~~~~~~~~~~~~~~