TRÀ VƯƠNG - THẤT UYỂN TRÀ

LƯ ĐỒNG (778-835), còn gọi Lô Đồng có bút hiệu Ngọc Xuyên Tử, người đất Tề Nguyên (nay thuộc tỉnh Hà Nam TQ), có tài liệu ghi quê Tứ Xuyên, tỉnh Giang Tây. Ông học rộng, thơ hay, sống vào đời Đường Hiến Tông (802-821). Ông được nhà vua vời vào triều phong làm Gián Nghị Đại Phu, nhưng không nhận. Ông ẩn cư trong núi Thiếu Thất, dạo chơi sơn thủy, uống trà, làm thơ. Bài TRÀ CA của ông rất nổi tiếng truyền đến ngày nay, phiên âm như sau:

TRÀ CA

Bích vân dẫn phong xung bất đoạn,
Bạch hoa phù quang ngưng uyển diện.

 

THẤT UYỂN TRÀ - Lư Đồng (Lô Đồng)


Nhất uyển (1) hầu vẫn nhuận,
Lưỡng uyển (2) phá cô muộn.
Tam uyển (3) sưu khô trường.
Duy hữu văn tự ngũ thiên quyển.
Tứ uyển (4) phát khinh hãn,
Bình sinh bất bình sự,
Tận hưởng mao khổng tán.
Ngũ uyển (5) cơ cốt thanh,
Lục uyển (6) thông tiên linh.
Thất uyển (7) ngật bất đắc (dã),
Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh.

 

Dịch nghĩa:

CA NGỢI TRÀ

Mây xanh theo gió thổi không ngớt,
Ánh sáng bồng bềnh màu hoa trắng nổi trên mặt chén trà.

Chén thứ nhất trơn miệng thông họng.
Chén thứ hai xua tan sự cô đơn phiền muộn.
Chén thư ba dốc sạch nỗi lòng.
Chỉ còn trong bụng chữ nghĩa năm nghìn quyển sách.
Chén thứ tư toát mồ hôi,
Mọi nỗi bất bình trong đời thoát hết theo lỗ chân lông..
Chén thư năm xương thịt đều trong sạch.
Chén thứ sáu thông lên cõi tiên đỉnh trời.
Chén thứ bảy không nhấp nổi,
Chỉ thấy lớp lớp gió mát thổi ra từ hai bên nách.

Đọc bản phiên âm và dịch nghĩa đều thấy trúc trắc, xin mạo muội tạm dịch cho có vẻ vần vè như sau:

BÀI CA TRÀ

Gió thổi mây xanh bay tiếp nối,
Hoa trắng ánh soi mặt tách nổi.
Một tách môi họng mềm,
Hai tách tan ưu phiền.
Ba tách dốc hết nỗi lòng,
Trong bụng chứa chữ năm nghìn quyển.
Bốn tách mồ hôi rịn,
Bất bình muôn sự theo chân lông tan hết.
Năm tách xương thịt sạch trong.
Sáu tách thông lên cõi tiên.
Bảy tách hơn chẳng thể nhấp,
Chỉ thấy hai nách hiu hiu gió nhẹ vờn.

(Trần Hùng dịch)
Vậy mà gần một nghìn hai trăm năm sau bài TRÀ CA nói trên, ở Việt Nam ta có một nhà thơ cũng viết một bài về trà, sao cấu tứ và cách uống đếm từng chén, giống với bài của Lư Đồng đến thế!

ĐẦU XUÂN UỐNG TRÀ...

Nhấp chén trà thứ nhất,
Da thịt bỗng tỏa hương.
Đời thực thành cõi mộng,
Trần gian hóa thiên đường.
Ta nâng chén thứ hai
Cho đất trời tinh khiết.
Tâm ta bừng sáng ra
Biết thêm điều chưa biết.

Mai sau đời dẫu tuyệt
Chắc gì hơn lúc này.
Nào nhâm nhi chén nữa,
Hai đứa mình cùng bay.
 

Nếu như Lư Đồng kể uống đến bảy chén trà có vẻ nhiều, là vì ý thơ phiêu dật, dồi dào, phóng khoáng; cũng còn vì chén trà ngày xưa chỉ nhỏ như hạt mít, mắt trâu, nên bảy tám chén hẳn chưa nhiều.
Ngày nay uống trà ấm, chén cũng to hơn, không kể uống trà Liptong hay trà đá bằng cốc. Vả lại, tác giả viết bài uống trà tân thời, nếu cũng đếm thêm mấy chén nữa thì không biết viết gì, vẫn mượn ý người xưa thì giống với bài Trà Ca của Lư Đồng quá, nên dừng lại ở chén thứ ba.
 

Bài thơ Đầu Xuân Uống Trà... chắc không xa lạ với nhiều bạn. Mỗi khi tết đến xuân về, hoặc bàn về chủ đề trà, bài này thường vẫn được báo chí tán tụng, bình phẩm nhiều, coi như tứ lạ. Vậy xin chép cả hai bài ra đây để làm phép so sánh, còn đánh giá, nhận xét là do lượng cao minh của các bạn. Bằng không cũng là để mua vui.

TRẦN HÙNG
Trần Kiều Am)
(8/11-2016)

Nguồn: Trà dư tửu hậu, tác giả Phan Tự Tổ, người dịch Dương Thu Ái, Nxb Công An Nhân Dân, H.,2007.
- Wikipedia: mục từ Lư Đồng (TQ)


~~~~~~~~~~